Hôm nay (7/12) tại TP.HCM, Trung tướng Lưu Phước Lượng – Nguyên Chính uỷ Quân khu 9, Tổ trưởng Tổ tư vấn Hội HTGĐLS TP.HCM và Đại tá, nhà báo, nhà văn Trần Thế Tuyển – Nguyên TBT báo Sài Gòn Giải Phóng, Chủ tịch Hội HTGĐLS TP.HCM ra mắt 4 cuốn sách nhân kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2024).
Trong đó, Trung tướng Lưu Phước Lượng ra mắt 2 cuốn: Luận bàn và suy ngẫm, Dấu ấn cuộc đời. Còn Đại tá, nhà báo Trần Thế Tuyển ra mắt 2 tác phẩm “Trăng lạnh”, “Linh Khí Quốc Gia”.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu các bài viết về các tập sách này:

Ý tưởng “Linh khí quốc gia” và bài ca giữ nước
“Linh khí quốc gia” là một trường ca khác biệt.
“Linh khí quốc gia” khác biệt với những trường ca
Trần Thế Tuyển đã viết và khác biệt với những trường
ca đã công bố trong văn chương Việt. Vì sao khác biệt?
Vì hầu hết trường ca đều được viết để kể lại một câu
chuyện đã xảy ra, còn “Linh khí quốc gia” được viết để
đề nghị một ý tưởng mong muốn sớm thực hiện: “Ngày
hai mươi bảy tháng bảy, hằng năm/Linh khí quốc gia –
những người giữ nước”.
Ý tưởng Linh khí quốc gia được Trần Thế Tuyển
xác định như một dự án tâm linh cần thiết, cho nên
cả 6 chương trở thành dữ liệu biện chứng cho giá trị
thực tiễn của Quốc giỗ. Vận dụng cả lịch sử và truyền
thuyết, Trần Thế Tuyển đưa ra minh ước:
“Những người lính đầu tiên ngã xuống
Thành cổ tích, dân ca
Thành điệu chầu văn hay làn quan họ
Thành bài chòi, thành câu vọng cổ
Da diết theo dân tộc mấy ngàn năm”.
Xã hội chúng ta đã quen thuộc với khái niệm “liệt
sĩ”, nhưng Trần Thế Tuyển cảm thấy tinh thần đền ơn
đáp nghĩa của người Việt Nam phải sâu rộng hơn nữa.
Trần Thế Tuyển hướng đến khái niệm “nghĩa sĩ” và
dành hẳn một chương cồn cào nhất, trăn trở nhất để
bái vọng “Những nghĩa sĩ như cột mốc biên cương”.
Với một dân tộc đã chịu đựng tai họa xâm lăng
triền miên, không thể đong đếm hết bao nhiêu đứa
con của mẹ Việt Nam lặng lẽ chôn vùi trong binh lửa.
Những chiến công hiển hách và những mất mát âm
thầm, khi đặt cạnh nhau, đều không thể nén những
cơn xúc động cuộn trào từ trái tim con người biết nghĩ
về Tổ quốc, biết nghĩ về đồng bào. Những địa danh
mỗi lần nhắc lại sông Như Nguyệt, gò Đống Đa, cọc
Bạch Đằng, ải Chi Lăng, đảo Gạc Ma… đều tự hào và
đều nghẹn ngào. Cho nên, “liệt sĩ” và “nghĩa sĩ” đều
đáng kính trọng như nhau.
Hình ảnh “nghĩa sĩ” được Trần Thế Tuyển tái
hiện bằng những câu thơ gan ruột: “Xương trắng96 |
Linh khí quốc gia
Trường Sơn và máu hồng Đồng Tháp/Cả những nghĩa
binh quả cảm giữa đại dương”. Và, ông thúc giục cộng
đồng nhận diện: “Có những người lính phía bên kia
chịu đựng bao cay đắng/Âm thầm lấy máu giữ Hoàng
Sa”. Đây là một thái độ sòng phẳng và văn minh của
một người cầm bút.
Sự tự nguyện chìm khuất của nghĩa sĩ, đã đánh
thức lòng trắc ẩn của thế hệ sau. Bởi lẽ, xuất phát từ
thiện chí “Đất Tổ quốc ngập tràn sắc giặc/Dẫu vong
thân cũng thấy ấm lòng” khiến ngọn lửa yêu thương
nhen nhóm lên và bùng cháy lên “Vị quốc vong thân
thành đuốc sáng/Soi cho dân tộc mấy ngàn năm”.
Trần Thế Tuyển từng tôn kính liệt sĩ “Thân ngã
xuống thành đất đai Tổ quốc/Hồn bay lên hóa linh khí
quốc gia” và bây giờ ông cúi đầu cảm tạ cả những
nghĩa sĩ “Là Thành Hoàng của nước non/Để đất nước
này nguyên vẹn từng tấc đất cha ông/ Để ban mai nơi
địa đầu Lũng Cú/Để Cà Mau cánh buồm căng gió/Dạ cổ
hoài lang nhức nhối mũi con tàu”.
Trường ca “Linh khí quốc gia” của Trần Thế
Tuyển không mưu cầu những thi tứ bay bổng và những
vần điệu du dương. Những câu thảng thốt giúp trường
ca “Linh khí quốc gia” nén chặt để nhắc nhớ những
hương hồn vô danh, để ghi tạc những oan khiên dâng
hiến, để truy điệu những sứ mệnh cao cả. Hơi thơ gấp
gáp và mạch thơ chuyển động suốt trường ca “Linh
khí quốc gia” chính là bài ca giữ nước thiêng liêng cho
hôm nay và mai sau kiêu hãnh đứng trên đất đai tổ
tiên ngàn đời để lại: “… như cánh buồm/Căng gió chở
tương lai và quá khứ/ Để cốt cách Việt chói ngời lịch sử”.
Tháng 9-2023
Lê Thiếu Nhơn

“Linh khí quốc gia”: nhìn từ hướng tiếp cận lịch sử
Văn học với tôi, người chép sử, luôn là chốn thâm
nghiêm. Dù rằng, lịch sử và thi ca vốn có mối quan hệ
liền lạc, lịch sử là chất liệu, nguồn cảm hứng cho sự ra
đời của thi ca, còn thi ca thì sinh thành và phản chiếu
lịch sử; lịch sử là quá trình tiệm cận quá khứ, còn thi
ca thì không ngừng đối thoại với nó, nhất là trường ca,
thể loại có thể diễn trình những câu chuyện dài về lịch
sử và truyền thuyết. Rồi một ngày, cầm trên tay bản
thảo trường ca có tựa đề rất “lịch sử” này đã kích thích
sự tò mò của người làm công việc nghiên cứu lịch sử.
Và cơ duyên tôi đến với Linh khí quốc gia của Đại tá,
Nhà thơ Trần Thế Tuyển là như thế.
Hơn 500 câu thơ trong Linh khí quốc gia chảy theo
một trục chính: Tiến trình chống ngoại xâm kể từ khởi
thủy và sự hy sinh của những người giữ nước. Mặc
nhiên, chúng ta sẽ không chờ đợi ở tác phẩm những
sự kiện cụ thể mà cảm nhận lịch sử thông qua nhận
thức và suy cảm của tác giả, như cách nói của nhà mỹ
học Đức G. Hegel. 6 chương cấu trúc trong trường ca
đi theo trình tự từ thuở hồng hoang đến thập niên chín
mươi của thế kỷ trước. Nội dung mỗi chương đều tập
trung vào một chủ đề nhất quán, dù các trục lịch sử
lịch đại và đồng đại nhiều khi được đảo ngược hoặc
trộn lẫn vào nhau.
Thoạt tiên, chương 1 (Cương thổ) giới thiệu
quá trình tượng hình đất nước, Thuở hồng hoang/Bên
bờ Thái Bình Dương/Có rẻo đất bình yên, từ đó Cương
thổ hình thành/Trời xanh, sông nước. Đất nước bình
yên, nhưng trước họa xâm lăng, những con dân Văn
Lang phải đứng lên bảo vệ chủ quyền cương thổ, Kẻ
thù cướp mỗi đêm/Bộ tộc tan hoang, hang vườn xơ xác/
Những người lính đầu tiên được dân làng ủy thác/ Ra
tuyến đầu sống mái với ngoại xâm. Và những người
lính đầu tiên ấy ngã xuống, để Thân thể họ thành đất
đai Tổ quốc.
Chương 2 (Dân tộc) tràn cảm xúc trong huyền
sử, Mẹ Âu Cơ, Cha Lạc Long Quân, ngàn thuở/54 dân
tộc anh em/ Hình thành nên xứ sở/Mảnh đất hình cô gái
mặc áo dài bên bờ đại dương. Từng khổ thơ lần lượt
lướt qua các giai đoạn lịch sử và trong từng giai đoạn100 |
Linh khí quốc gia
ấy, khi đất nước lâm nguy, các công dân từ Âu Lạc đến
Đại Việt lại buông tay cày tay bút lớp lớp lên đường.
Cương thổ – Dân tộc, can qua/Hằng hà lớp lớp nghĩa
binh tử trận/Tổ tiên xưa dựng nước/Ơn đức vô tận/Cháu
con nay vị quốc vong thân.
Những vần thơ cắt nhịp ngắn trong chương
3 (Mở cõi) uất nghẹn nỗi đau đất nước chia thành
Đàng Ngoài – Đàng Trong với các cuộc tương tàn bên
bờ Sông Gianh trải suốt hai thế kỷ, Trịnh – Nguyễn
phân tranh/Không bên nào được mất/Chỉ cái chết, rõ
nhất/Bao chinh nhân nhuộm máu chiến trường. Rồi từ
đây, những người lính lại ra đi, cùng Ba anh em áo
vải/Phất cờ đào thống nhất giang sơn; cùng Nguyễn
Trung Trực, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân,
Nguyễn Đình Chiểu giương cao cờ đại nghĩa, Máu và
xương ngập đỏ đất Nam Kỳ.
Thông qua các hình tượng văn học, chương 4 (Tổ
quốc) trải cuộc trường chinh chống Pháp, khởi đầu
bằng Có một ngày, bến cảng ấy Người ra đi/Nguyễn
Tất Thành tìm đường cứu nước, để Ba mươi tư chiến
sĩ đầu tiên giữa khu rừng lạnh/Ngọn lửa hồng sưởi ấm
bởi nhân dân. Cuộc khốc liệt đi từ khởi nghĩa Nam Kỳ
đến núi rừng Tây Bắc: Trời Điện Biên xanh ngắt một
màu/Mà đồi núi thắm máu người chiến sĩ/Ngôi đền thờ
linh thiêng, hùng vĩ/ Mái ấm che vạn vạn linh hồn/Tiếng
chuông đồng gọi hồn chiến sĩ.
Hùng tráng, gấp gáp là lối biểu đạt trong chương
5 (Nghĩa sĩ). Đất nước chia làm hai miền do kẻ thù
không chịu thi hành Hiệp định Genève, lớp lớp người
trẻ lại lên đường cứu nước. Những tráng sĩ không quản
chông gai/ Hiến tuổi Xuân cho đất nước/Những Tân
Cảnh, Đắk Tô, Lộc Ninh, Bình Phước, những Truông
Bồn, Đồng Lộc, Long Khốt, Đá Biên. Cả khi đất nước đã
hòa bình thống nhất, máu những người lính vẫn tiếp
tục đổ xuống Biển Đông cũng như ở hai đầu Tổ quốc.
Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hóa
linh khí quốc gia!
Chương cuối của bản trường ca dừng lại đúc kết
sự ân nghĩa, Tưởng nhớ người đi xa/Con cháu đoàn viên,
ngợi ca/Công đức người đã khuất. Trần Thế Tuyển đặt
tên chương là Linh khí quốc gia. Linh khí quốc gia
như lời thề non sông/ Biết ơn tổ tiên, người dựng nước/
Tri ân những người hiến thân mình cho Tổ quốc/… như
cánh buồm/Căng gió chở tương lai và quá khứ/Để cốt
cách Việt chói ngời lịch sử/ Để “Âu vàng mãi mãi ngàn
năm”. Đó không chỉ là những vần thơ da diết, mà còn
là nỗi lòng, tâm can của ông, một người đang làm công
việc đền ơn đáp nghĩa.102 |
Linh khí quốc gia
Linh khí quốc gia không phải là sử ca, nó là một
bài ca giữ nước. Tác giả không kể lại một câu chuyện
lịch sử cụ thể. Trên nền tảng lịch sử, ông chọn lối đi
riêng: trình giải sự cảm nhận và nỗi đớn đau về sự hy
sinh của triệu triệu người lính trong tiến trình lịch sử
giữ nước của dân tộc.
Với góc nhìn của người nghiên cứu lịch sử, tôi
đọc được thông điệp của tác giả qua trường ca Linh
khí quốc gia. Có phải thế không, rằng, lịch sử hình
thành và phát triển của dân tộc Việt gắn liền với sự hy
sinh vô bờ bến của con dân Việt. Bất kể họ là ai, dưới
thể chế chính trị nào, nếu họ hy sinh vì dân tộc Việt,
vì mảnh đất hình chữ S thân thương này thì thân thể
họ biến thành đất đai Tổ quốc và hồn họ bay lên hóa
linh khí quốc gia. Điều này không mới với chúng ta,
đặc biệt khi công cuộc đổi mới của đất nước diễn ra
như điểm hẹn của lịch sử. Nhưng thể hiện trong thi
ca, nhất là trường ca là điều mới mẻ, đáng ghi nhận.
Thông điệp nữa, tác giả có thể dẫn dắt người đọc theo
chương hồi thông qua trục thời gian lịch sử, điểm đến
cuối cùng vẫn gợi mở, đề xuất một ý tưởng. Điều ấy
thể hiện vành vạnh khi tác giả dẫn dắt trong triệu triệu
thời khắc ngã xuống của những người lính ấy, từ khởi
thủy đến ngày nay. Ngày hai mươi bảy tháng bảy, hằng
năm/Linh khí quốc gia – những người giữ nước. Không
chỉ để chọn một ngày Quốc giỗ cụ thể, cái vượt lên tất
cả của trường ca Linh khí quốc gia của Đại tá, Nhà thơ
Trần Thế Tuyển là sự nhắc nhớ về sự hy sinh của dân
tộc vì chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, sự nhắc nhớ
trách nhiệm chính trị của những người đang sống!
Đại tá, PGS. TS HỒ SƠN ĐÀI
