Thứ Hai, Tháng Bảy 22, 2024

QUẢNG TRỊ – MIỀN ĐẤT LỬA

Thực tình, tôi chưa biết đến ni cô Hiền Ân trước đó cho đến khi ngồi trên thuyền rồng lênh đênh từ bến sông Hương lên đồi Vọng Cảnh.

Tình cờ biết tôi từ trong miền Nam xa xôi ra Huế, ni cô bắt chuyện và hỏi tôi đôi điều về nhà văn Huỳnh Trọng Khang, hiện đang sinh sống và làm việc tại TP.HCM. Tôi chưa có dịp nói chuyện với Khang, nhưng cũng từng đọc những tác phẩm của anh như Mộ phần tuổi trẻ, Phật trong hẻm nhỏ… nên mạnh dạn chia sẻ chút cảm nghĩ của riêng mình.

Từ đó, tôi nói chuyện với ni cô trong suốt chuyến đi. Ni cô là người Quảng Trị vào Huế đọc đại học văn khoa, nghe tôi chia sẻ mình chưa có dịp đến thăm Quảng Trị – mảnh đất mà người ta hay bảo nhau rằng “đẹp đến đau lòng”, ni cô đề nghị tôi để cho ni cô làm “hướng dẫn viên bất đắc dĩ”, cùng nhau về thăm Quảng Trị. Tôi không khách sáo.

Trong mắt tôi, ni cô Hiền Ân có gương mặt thánh thiện, nhân hậu. Đêm trước ngày từ Huế đi Quảng Trị, ni cô gửi cho tôi lịch trình đầy đủ, chi tiết, từ thời gian, địa điểm đến những hoạt động, như một hướng dẫn viên thực thụ. Có những cái duyên thật lạ, như tôi – một người trai phương Nam thích xê dịch và yêu miền Trung với ni cô Hiền Ân – một tu sĩ vô tình gặp tôi trên thuyền rồng mà cảm mến, như thể đã biết nhau từ trước.

Chuyến về thăm Quảng Trị có thêm tiến sĩ Hồ Tiểu Ngọc và cô bé Quỳnh, cũng là sinh viên văn khoa. Điểm đầu tiên mà chúng tôi đến là Trường Bồ Đề, Thành cổ Quảng Trị và dòng sông Thạch Hãn – những địa danh gắn liền với sự kiện 81 ngày đêm các chiến sĩ Giải phóng đã anh dũng chiến đấu, bảo vệ Thành cổ đến phút cuối cùng.

Tại nơi này, trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, có biết bao chiến sĩ Giải phóng đã hy sinh oanh liệt. Khoảnh khắc đứng trước Trường Bồ Đề – chứng tích của tội ác huỷ diệt, ký ức đau thương về những ngày kháng chiến chống Mỹ ác liệt, chị tôi – Tiểu Ngọc đã không kìm nén được nỗi xúc động dâng lên trong lòng.

Bên bờ sông Thạch Hãn một thời nhuốm máu, “cối xay thịt” trong suốt 81 ngày đêm khốc liệt đau thương, chúng tôi đã thả những nhành hoa cúc trắng xuống dòng sông bằng tấm lòng tri ân, biết ơn sâu nặng những người đã hy sinh thân mình cho Tổ quốc. Mấy câu thơ của cựu chiến binh Lê Bá Dương mà tôi được học thuở thiếu thời bất chợt vọng về trong tâm trí: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”.

Thành cổ Quảng Trị mùa này rực rỡ sắc hoa phượng. Những người trai thuở ấy “đã đi không tiếc đời mình” (ý thơ Thanh Thảo) giờ nằm lại đâu đó trong lòng đất mẹ yêu thương, dưới tấc đất Thành cổ.

Trong sắc áo dài màu thiên thanh – màu hoà bình, chị hướng dẫn viên vừa lái xe điện, vừa kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện xúc động về cuộc đời người lính, những lá thư tay từ tuyến đầu máu lửa gửi về với bao tình cảm trìu mến, thiết tha, những lời hẹn thề mong manh mây khói. Sau phút mặc niệm trước đài chứng tích sinh viên – chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị, bằng chất giọng nghẹn ngào, chị hướng dẫn viên đọc cho chúng tôi nghe mấy dòng thơ trong bài Tấc đất Thành cổ của cựu chiến binh Phạm Đình Lân: “… Nhẹ bước chân và nói khẽ thôi/ Thành cổ rộng sao đồng đội tôi nằm chật/ Mỗi tấc đất là một cuộc đời có thật/ Cho hôm nay tôi đến nghẹn ngào”.

Nhận nén hương từ ni cô Hiền Ân, trong đoàn tuỳ tùng, chúng tôi trang nghiêm bước đi trên 81 bậc thang lên đài dâng hương tưởng niệm người nằm xuống ở trung tâm Thành cổ, chợt thấy lòng xúc động bồi hồi. Năm tháng ấy, có biết bao người đã xếp những giấc mộng riêng tư của mình vào ba lô để lên đường chiến đấu, và vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất quê hương, trong lòng dân tộc…

Rời mái chùa Nại Cừu – nơi ni cô Hiền Ân tu tập – nép mình dưới bóng mát của vô số loài cây mọc ở đầu ngôi làng hiền hoà, trầm mặc, chúng tôi tiến về phía Nghĩa trang Đường 9 và Nghĩa trang Trường Sơn. Đây là nơi yên nghỉ của hàng ngàn liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắp nén hương dâng lên hương hồn người đã khuất, lặng lẽ đi giữa những dãy mộ im lìm dưới vòm trời xanh Quảng Trị, tôi thấy tim mình se lại, nỗi xúc động dâng đầy trong tôi.

Dừng chân ở nghĩa trang Trường Sơn thuộc địa phận huyện Gio Linh vào buổi trưa có ve kêu không ngớt trên vòm lá, nhưng tôi tự thấy không gian nơi này thinh vắng, một sự im lặng đến nỗi tôi có thể nghe được tiếng nhành cây ngọn cỏ rung rinh, tiếng tia lửa trên ngọn hương nổ lép bép khi chị Tiểu Ngọc dâng lên đài tưởng niệm.

Chạm tay vào những bia mộ có tên người đã khuất và cả những bia mộ vô danh, cảm giác xót xa lẫn điều chi vỡ ra trong lòng. Tôi nghĩ, mình và thế hệ mình cần phải làm gì đó với quê hương Tổ quốc, phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của lớp lớp tiền nhân. Cái giá của nền hoà bình mà chúng ta thụ hưởng hôm nay thật đắt, nó được đánh đổi bằng nước mắt và máu xương của bao người.

Trên hành trình khám phá vùng đất lửa Quảng Trị, điểm mà chúng tôi không thể bỏ qua là cầu Hiền Lương, sông Bến Hải – vĩ tuyến 17 chứng kiến nỗi đau chia cắt của dân tộc mình những 20 năm ròng. Vĩ tuyến 17 đang vào mùa cỏ lau trắng muốt. Đi trên cầu Hiền Lương, tôi tự hỏi lòng mình rằng: chiếc cầu ấy có dài đâu mà lại vô tình ngăn đất nước thành hai miền Nam – Bắc, ngăn chia những mối tình đẹp, ngăn Bắc – Nam sum họp một nhà.

Đất nước hoà bình, non sông nối liền một dải. Chiếc cầu Hiền Lương và con sông Bến Hải đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của nó, trở thành di tích để bao người đi ngang qua đều bồi hồi ngắm nhìn. Giây phút đứng ở vạch trắng giữa cầu Hiền Lương, thật ngỡ ngàng, ni cô Hiền Ân chỉ cho tôi chú bồ câu trắng muốt đứng trên thành cầu ngẩn ngơ nhìn đoàn khách.

Một hình ảnh thật đẹp! Bồ câu – cánh trắng hoà bình, khát vọng thuở nào cháy rực trong trái tim nhân dân hai miền Nam – Bắc. Chúng tôi về thăm địa đạo Vịnh Mốc ở huyện Vĩnh Linh khi nắng chiều nghiêng bóng, đi dưới màu xanh biếc của tre trúc, ngắm vết tích của những hố bom còn sót lại, tôi chợt nghĩ đến một khoảng trời xanh biếc in hình trong lời thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, ngắm những giao thông hào có hoa xuyến chi bung nở dọc theo, đi vào lòng địa đạo – nơi quân và dân đã sống và chiến đấu giữa mưa bom bão đạn… Tôi thấy mình đang đứng đâu đó giữa xưa và nay, giữa quá khứ và hiện tại. Tôi càng thêm tự hào về những trang sử vẻ vang của đất nước mình. Từ trong chiến tranh bom đạn, từ trong muôn vàn gian khó, dân tộc tôi đã kiêu hãnh đứng lên.

Có những cái duyên thật kỳ lạ biết bao! Như tôi đâu nghĩ rằng trong chuyến về miền Trung lần này bước chân mình lại lang thang đến nhiều nơi trên vùng đất lửa Quảng Trị và chị Tiểu Ngọc cũng đâu nghĩ rằng chỉ trong 12 giờ đồng hồ ni cô Hiền Ân đã đưa mình đi hết một vòng Quảng Trị, 12 giờ đồng hồ – mỗi phút giây đều quý giá. Chúng tôi ngược dòng lịch sử của dân tộc, để càng thêm kiêu hãnh vì mình được sống trên một đất nước bất khuất anh hùng, càng tự hào vì chúng tôi được là người Việt Nam. Mấy câu thơ của Trần Vàng Sao đã nói hộ tôi tình cảm thiêng liêng, cao đẹp đó:

“Tôi yêu đất nước này chân thật

Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi

Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi

Và yêu tôi đã biết làm người…”

(Trích Bài thơ của một người yêu nước mình)

HOÀNG KHÁNH DUY

Bài viết liên quan

ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận
Nhập tên của bạn

Bài viết phổ biến

Bình luận gần đây