Thứ Hai, Tháng 5 18, 2026

NHỊ VỊ TIỀN BỐI (II)

Trong kháng chiến chống Mỹ, tôi không trực tiếp là cán bộ dưới quyền ông. Năm 1974, tôi công tác tại ban tuyên huấn trung đoàn, khi ấy ông là Sư đoàn trưởng, thay ông Út Liêm được điều động lên làm Phó Tư lệnh Binh đoàn 232.

Mối gắn bó thực sự giữa tôi và ông chỉ bắt đầu khi tôi về công tác tại Báo Quân đội Nhân dân, lúc đó ông là Tư lệnh Quân đoàn 4. Thầy trò gặp nhau, câu chuyện dường như không bao giờ dứt. Không chỉ bởi tôi từng là người lính dưới quyền ông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài hàng chục năm – mà còn bởi giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc về nhân tình thế thái.

Tôi chỉ là lớp con cháu, nhưng ông luôn gọi tôi một cách thân tình là “ông nhà báo”. Ông là Thiếu tướng Vũ Văn Thược, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4.

Vị tiền bối thứ hai tôi muốn nhắc đến là Trung tướng Lê Nam Phong, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1, nguyên Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 2.

Khi ông Vũ Văn Thược làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 thì ông Lê Nam Phong là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7. Đó là hai vị sư đoàn trưởng lừng danh, không chỉ được cán bộ, chiến sĩ kính trọng mà còn khiến đối phương khiếp sợ. Khi ấy từng lan truyền tin đồn, phía địch treo thưởng hàng chục nghìn đô la Mỹ cho ai lấy được “thủ cấp” của hai vị sư đoàn trưởng này.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh cách đây năm mươi mốt năm, trong đội hình Binh đoàn 232 do ông Năm Ngà làm Tư lệnh, ông Út Liêm làm Phó Tư lệnh, ông Năm Thược chỉ huy Sư đoàn vượt qua “cánh đồng chó ngáp” từ biên giới tiến về giải phóng thị xã Tân An. Sau khi giải phóng Đà Lạt, ông Lê Nam Phong chỉ huy Sư đoàn 7 bôn tập dọc Quốc lộ 20, bao vây và tiến công Xuân Lộc – “cánh cửa thép” phía đông Sài Gòn.

Hai cánh quân của hai ông đã gặp phải sự chống trả quyết liệt. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh ngay trước giờ toàn thắng.

Lịch sử có những trớ trêu. Sư đoàn 7 của ông Lê Nam Phong được giao nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Nhưng trong khoảnh khắc quyết định, một đơn vị của Quân đoàn 2 đã đến sớm hơn và cắm cờ trên nóc dinh – sào huyệt cuối cùng của chế độ cũ. Đến chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 mới tiến vào.

Nhận bàn giao từ Quân đoàn 2, Sư đoàn trưởng Lê Nam Phong chỉ cười, nói giản dị: “Không sao. Các đồng chí đến sớm thì cắm cờ trên cao. Chúng tôi đến muộn một chút thì cắm cờ dưới sảnh. Quân giải phóng cắm được cờ trong thời khắc lịch sử là tốt rồi”.

Vị tướng được mệnh danh là “ông Năm Lửa” ấy cũng có những phút mềm lòng. Có lần đứng trước Tượng đài Chiến thắng Xuân Lộc, ông rơi nước mắt và nói: “Tôi còn nợ các bà mẹ, các gia đình liệt sĩ nhiều lắm. Tại nơi này, hàng nghìn anh em đã hóa thân vào đất đai Tổ quốc. Không biết bao giờ chúng ta trả được món nợ này.”

Hai vị tiền bối, hai vị tướng, hai người lính từng đi qua Điện Biên, nay đã về với tổ tiên. Tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh, hai ông nằm cạnh nhau, như vẫn tiếp tục sát cánh bên nhau sau mấy chục năm binh nghiệp dưới ngọn cờ của quân đội nhân dân.

Mỗi lần đến viếng, tôi không quên mang theo một chai rượu đế. Rót rượu mời hai ông, tôi như thấy ánh mắt quen thuộc ấy nheo lại, ấm áp và hóm hỉnh: “Ông nhà báo quân đội có gì mới không? Món nợ của chúng ta thì không bao giờ trả hết…”

Thành phố Hồ Chí Minh, những ngày cuối tháng Tư năm 2026.

TTT

Bài viết liên quan

ĐỂ LẠI BÌNH LUẬN

Nhập nội dung bình luận
Nhập tên của bạn

Bài viết phổ biến

Bình luận gần đây