Tròn 50 năm về trước, giữa một chiều tháng 7 của năm 1975, tôi từ nơi đang làm công tác quân quản ở quận 3 về Sư đoàn 341 đang đóng ở Tô Hiến Thành quận 10 để báo cáo công tác.
Nơi chúng tôi đang làm nhiệm vụ là Ủy ban quân quản phường Hiền Vương quận 3. Đó là một tòa biệt thự 2 tầng rộng rãi và râm mát, trước cổng lúc nào cũng có 2 chú tự vệ phường bắc ghế ngồi gác.
Tôi về gần đến nơi thì trời đổ mưa to. Chỉ kịp bung tấm ni lon màu cỏ úa của lính ra trùm kín người nhưng mưa to kèm theo gió thổi mạnh như lốc nên tôi vẫn ướt gần hết người. Đến cổng biệt thự thì thấy một cô gái mặc quần jean ống loe áo thun màu xám tro đang trú mưa. Nhưng cái mái cổng rất hẹp không che chở được bao nhiêu nên cô gái đã bị ướt lướt thướt, chiếc Honda dame màu xanh dựng nép sát bờ tường. Tôi đứng lại nhìn cô gái đầy vẻ ái ngại. Đó là một cô gái cũng trạc tuổi tôi, khuôn mặt trái xoan, da trắng, tóc để dài kiểu học trò. Tôi dừng bước: Chào cô. Dạ, em chào anh giải phóng. Anh ở trong này ạ. Vâng, tôi ở trong này. Nhà cô ở đâu. Dạ, em ở dưới Chợ Lớn, đường Hùng Vương. Em lên nhà bà dì trên này có chút việc giờ quay về thì mưa lớn quá. Bình thường khi đứng trước những người phụ nữ đẹp thì đầu óc tôi trở nên mụ mị hẳn đi nhưng lúc đó không hiểu sao trong đầu tôi vụt hiện lên một ý tưởng rất sáng láng. Tôi cởi tấm áo mưa bộ đội đưa cho cô gái: Cô mặc tạm tấm ni lon này, khi nào đi qua cô trả cũng được. Cô gái rất lấy làm ngạc nhiên: Anh không sợ em lấy luôn à. Không, chỉ là tấm áo mưa thôi, có mất cũng không sao. Cô về đi. Mưa kiểu này còn lâu mới hết.
Chỉ chờ cô gái cầm tấm áo mưa choàng vô người là tôi chạy vội lên lầu. Tiếng cô gái đuổi theo sau lưng: Em tên Khánh, anh tên gì. Tôi tên Sơn.
Bẵng đi 10 ngày sau, đúng sáng chủ nhật chẳng có việc gì làm tôi đang nằm chỏng gọng đọc Đông Châu liệt quốc thì tự vệ Tư đứng gác cổng dưới nhà la toáng lên: Anh Sơn có khách.
Mặc bộ đồ lính nai nịt đâu vô đó tôi xuống cầu thang. Ôi, Khánh. Vẫn cái xe Honda dame màu xanh ấy nhưng bữa nay cô mặc váy xám và áo sơ mi kẻ sọc nhìn rất trẻ trung duyên dáng.
Chọn một cái bàn làm việc trong văn phòng Ủy ban, tôi chỉ cái ghế đối diện mời Khánh ngồi. Ai nhìn vô cứ nghĩ như tôi đang tiếp khách công việc hàng ngày chứ không phải tiếp bạn.
Vừa ngồi xuống Khánh đã hỏi tôi: Bữa giờ Anh S có sợ mất tấm áo mưa không. Chắc nghĩ là mất tiêu rồi chứ gì. Ừ, tôi nghĩ là mất rồi. Đó là tấm áo mưa dành riêng cho bộ đội. Khánh cười kể: Hôm bữa em quàng tấm áo mưa của anh về đến nhà mẹ em hỏi ở đâu ra tấm ni lon lạ lùng này, mẹ em còn sờ sờ xem nó như thế nào nữa, một tấm áo mưa màu cỏ úa. Em kể lại câu chuyện anh cho mượn áo mưa mà mọi người không ai tin.
Tôi không ngờ chỉ một tấm áo mưa bộ đội màu cỏ úa mà lại là cả một sự lạ lùng và kì thú với người Sài Gòn như vậy.
Tôi cho Khánh biết là ngoài tấm áo mưa đơn giản đó tôi vẫn còn một tấm tăng to lắm. Tăng là cái gì anh. Là một tấm ni lon hình chữ nhật to gấp 3 bốn lần tấm áo mưa, khi căng ra hai mái như một cái lều, mình mắc võng nằm đung đưa dưới đó không lo gì mưa nắng. Khánh nghe lấy làm lạ lắm. Chợt bài thơ Bầu trời vuông của Nguyễn Duy hiện về trong đầu: Tôi đọc cho Khánh nghe bài thơ về cái tăng nhé. Có cả bài thơ về cái tăng nữa à anh, em rất muốn nghe. Tôi hắng giọng đọc đủ cho Khánh nghe bài thơ Nguyễn Duy:
Thắng rồi – trận đánh thọc sâu
Lại về với mái tăng – bầu trời vuông
Sục sôi bom lửa chiến trường
Tâm tư yên tĩnh vẫn vuông một vùng…
Khánh nghe thấy hay và ngạc nhiên: thơ cách mạng sao lại hay thế nhỉ. Anh chép cho em bài thơ đó nhé. Mũi tôi phồng to hẳn lên.
Khánh kể nhà có 6 anh chị em. Khi cô đang học năm 3 khoa triết Đại học Văn khoa Sài Gòn thì thành phố được giải phóng, trường tạm đóng cửa. Thế bây giờ Khánh làm gì khi trường vẫn đóng cửa. Thì em đi chơi dài dài thôi. Giải phóng rồi mà. Một nụ cười rất hồn nhiên. Giờ anh Sơn kể về anh cho em nghe đi.

Tôi kể cho Khánh nghe về tôi, cũng là một sinh viên học hết năm nhất khoa văn Đại học Sư phạm Vinh thì nhập ngũ từ tháng 9/1972 rồi đi B vào chiến trường. Vậy anh làm đến gì rồi. Tôi chỉ ngón tay vào cái quân hàm trên ve áo: Lính thôi, hạ sĩ, hơn binh nhất chút. Khánh lại lấy làm ngạc nhiên. Tôi cho cô gái biết lính sinh viên như tôi trong bộ đội giải phóng thì nhiều lắm, ở đại đội của tôi hơn một nửa là lính sinh viên đấy.
Chợt Khánh nhìn kĩ vô ngực áo bên trái tôi rồi hỏi: Anh Sơn có người yêu rồi, chị ấy chắc tên Linh hay Ly gì đó phải không. Tôi ngạc nhiên: Sao bạn lại hỏi thế. Thì anh thêu cả tên người yêu lên ngực áo là gì, lại còn ghép tên hai người với nhau nữa, hai người yêu nhau năm 20 tuổi phải không, có cả số 20 đó, ghê thiệt. Ôi, thì ra đó là chữ “SL-20” mà trước ngày đi vào miền Nam chiến đấu, theo lệnh chỉ huy tôi đã cặm cụi suốt một buổi trưa để thêu nó lên hai cái áo quân phục vải Tô Châu. Tôi giải thích: Đây là kí hiệu bí mật của bộ đội miền Bắc khi vào miền Nam chiến đấu. Nhìn vô đó sẽ biết mình ở đơn vị nào. “SL” là tên sư đoàn Sông Lam mật danh của sư đoàn 341, còn số 20 là tên đại đội 20. Nếu trong chiến đấu lỡ tôi có chết thì mọi người vẫn biết tôi là người của đại đội 20 thuộc Sư đoàn 341. Nghe giải thích Khánh ớ người ra: Có vẻ bí hiểm và hấp dẫn nhỉ.
Ngày tôi 21 tuổi, lính C20 F341, ảnh chụp tại Sài Gòn 15.5.1975
Từ đó trở đi cứ mỗi ngày chủ nhật Khánh lại lên chơi với tôi chuyện trò đủ thứ. Chúng tôi thân nhau và yêu nhau lúc nào không biết.
Tháng 12 năm 1975, tôi phải chia tay Khánh, chia tay Sài Gòn để xuất ngũ trở lại miền Bắc tiếp tục học tập. Chúng tôi mất liên lạc với nhau từ đó nhưng trong tôi vẫn nhớ như in căn nhà gia đình Khánh mà đã nhiều lần tôi đến thăm ở đường Hùng Vương, Chợ Lớn.
Và tôi mong có ngày trở lại Sài Gòn, gặp lại Khánh.
Rồi cơ hội ấy cũng đến. Năm 1979, tôi tốt nghiệp đại học và được Bộ Giáo dục phân công về Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn làm công tác giảng dạy ở khoa Ngữ Văn. Năm 1980 tôi được cử đi Sài Gòn đọc sách tự nghiên cứu chuyên môn 2 tháng, nhân thể ôn thi vào cao học. Đây là cơ hội tốt để tôi quay lại Sài Gòn tìm Khánh.
Một ngày đầu tháng 8 năm 1980, chuyến xe đò Quy Nhơn–Sài Gòn đưa tôi trở lại thành phố thân quen. 6 giờ sáng thì chiếc xe đò dừng lại và thả tôi xuống bến xe Miền Đông. Xóc lại ba lô tôi tìm đến chiếc Honda ôm của một bác già khắc khổ: Bác cho tôi về số nhà 40 Hùng Vương, Chợ Lớn.
Tôi khoác cái ba lô bộ đội đã phai màu đứng tần ngần trước căn nhà là nơi ở của gia đình Khánh mà tôi đã nhiều lần ghé thăm trong những ngày làm quân quản sau 30 tháng tư năm 1975. Chuông cửa vẫn còn đó nhưng tôi không dám bấm vì không biết ai đang là chủ của căn nhà quen thuộc này.
Nhà bên cạnh là một cửa hàng tạp hóa. Tôi ghé vô gặp chỉ chủ nhà đứng tuổi đang dọn hàng: Dạ chị cho hỏi gia đình nhà chị Khánh còn ở trong số nhà 40 này không ạ. Chị chủ nhìn kĩ tôi rồi lại gần nói nhỏ: Nhà đó vượt biên từ hơn nửa năm nay rồi chú. Tôi nghe mà giật cả mình nhưng không hề ngạc nhiên vì năm đó đang có phong trào vượt biên. Đi cả nhà luôn hả chị. Ừ, đi hết cả nhà.
Tôi lùi xa ra ngắm lại căn nhà quen thuộc và chợt nhớ đến câu thơ rất hay trong bài thơ Đường Đề đô thành nam trang nổi tiếng của nhà thơ Trung Quốc Thôi Hộ:
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong
Dịch nghĩa
Gương mặt người xưa giờ không biết chốn nao
(Chỉ thấy) hoa đào vẫn như cũ cười với gió đông.
Cảm xúc buồn chán vô cùng. Khi đi vào háo hức hồi hộp bao nhiêu thì bây giờ đến nơi rồi tôi lại thấy trống trải bấy nhiêu.
Nhưng dù sao tôi cũng đã lấy làm thỏa mãn cho một sự trở về quá khứ của thời tôi 21 tuổi. Một cái tuổi còn rất trẻ.
Mọi chuyện rồi cũng đã qua, hãy để gió cuốn đi.
Hà Tùng Sơn (CCB phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, TP.HCM)
